Skip navigation

I)Những nhân tố ảnh hưởng đến khẩu vị ăn uống của người Nhật                                  1)Vị tri dịa lí và khí hậu :

Là đảo quốc do bốn quần đảo độc lập hợp thành, nên xung quanh Nhật Bản toàn là biển. Với lợi thế địa lí này ,Nhật được thiên nhiên ưu ái cho một nguồn tài nguyên biển phong phú nên từ xa xưa việc nấu nướng đã đề cao vai trò của hải sản.

Bốn bề là biển , sự giao thương trên biển làm cho nước Nhật du nhập được những tinh hoa ẩm thực từ phương đông lẫn phương Tây.

Ở gần Trung Quốc và Triều Tiên, ẩm thực Nhật có sự giao thoa với nền ẩm thực lâu đời của Trung Hoa. Một số loại rau củ được du nhập vào Nhật ,đặc biệt món đậu hũ nổi tiếng cũng có nguồn gốc từ Trung Quốc, cách làm mì cũng được học hỏi từ Trung Hoa, nhung món ăn khi sang Nhật đã được chắt lọc và chế biến theo cách riêng của họ.

Quần đảo Nhật Bản trải dài từ bắc xuống nam,nằm trong khu vực khí hậu ôn đới và cận nhiệt đới nên thời tiết thay đổi khác nhau theo từng vùng. Các món ăn theo mùa từ điều kiện thơi tiêt khắc nghiệt ở Hockaido đến vùng khí hậu nhiệt đới Okinawa ở phương Nam đã đem lại cho Nhật nhiều món ăn phong phú.

Nếu như Hockaido là vùng đất rộng lớn và lạnh lẽo khó có thể trồng được lúa mì thì người dân nơi này đã quen với hương vị của khoai tây ,cải bắp cá hồi, thịt nướng…Món ăn đặc biệt của vùng này là món mì Trung Hoa dung với bơ. Lẩu hải sản với tôm,cá hồi, mực cũng đặc trưng cho món ăn của vùng.

Đến vùng Kanto ,Kansai sẽ thấy sự khác biệt rõ rệt trong ẩm thực Nhật. nếu như nước canh trong chén súp miso ở vùng Kansai gần như có màu trắng thì màu canh súp miso ở Kanto lại có màu đậm và hơi đỏ. Món ăn ở phía Đông và Tây còn khác nhau ở hương vị món sushi,bánh kaoj và các loại đồ chua. Món ăn vùng Kyoto với hương vị thanh thoát nhẹ nhàng của món ăn cung đình, trong khi món ăn vùng Tokyo được chế biến đậm đà hơn với dầu đậu nành.

Kyushu nổi tiếng với trà va trái cây và các loại hải sản. nơi đây còn đạm nét ảnh hưởng từ Trung Quốc và Phuong Tây vì Nagasaki tung đóng vai trò buôn ban giữa Nhật với thế giới bên ngoài. Khách dến thăm thành phố  này chắc không thể bỏ qua món bánh xốp kasutera.

Tại hòn đảo cực Nam Okinawa,những món ăn truyền thống ,độc đáo có được nhờ tiếp xúc với Trung Quốc và Đông Nam Á vào thời vương quốc Ryukyu kaos dài hơn 400 năm. Món ăn truyền thống ở đây là goyachanpuru( món xào hỗn hợp gồm khổ qua ,thịt lợn và giá)

Không chỉ thay đổi theo vùng mà ngay trong mỗi vùng tùy điều kiện khí hậu khác nhau mà người Nhật cũng thưởng những món ăn khác nhau. Dân tộc Nhật đặc biệt nhạy cảm với sự thay đổi của cảnh quan thiên nhiên và thời tiết. vẻ đẹp của bốn mùa thể hiện rõ nét trong ẩm thực Nhật. Điều này không chỉ phản ánh ẩm thục Nhật gắn liền với yếu tố thiên nhiên  mà còn nói lên con người Nhật biêt tận dụng để thưởng thức nhũng ư gì “tươi nhất ,ngon nhất” tùy theo sự thay đổi của khí hậu.

Trong mầu hè nóng bức người Nhật thường ăn món lươn nướng vì cho rằng món này sẽ cung cấp năng lượng cần thiết để chống chọi với khí hậu nóng . mùa hè cũng là mùa để ắn các món mực rau , hoa quả tươi . Đặc biệt trong mùa hè họ thường nhấm nháp li bia bên đĩa edamame-một loại đậu luộc có màu xanh trong đêm mùa hè.

Mùa thu đến là người Nhật chuyển sang ăn món mì soba,các loại nấm đặc biệt là nấm matsutake. Cuối thu để dành rau quả cho mùa đông sắp tới. Nhiều đồ chua được chế biến với giấm , muối để dự trữ cho mùa đông.

Onabe –món lẩu nghi ngút khói thường được ăn vào mùa đông đẻ giảm đi cảm giác lạnh lẽo.Vào ngày cuối cùng của năm người Nhật thường ăn mì toshikoshi có sợi dài với long tin rằng những sợi mì dài có thể đem lại sức khỏe và sự trường thọ trong năm mới.

2)Lịch sử văn hóa

a)Tính độc đáo cổ truyền của dân tộc

Người Nhật : “Thưởng thức bằng mắt”

Tính đặc trưng và hấp dẫn nhất của ẩm thực Nhật Bản có thể được cho là sự thể hiện một cách đầy đủ tính thẩm mỹ trong các món ăn qua các giác quan: thị giác, khứu giác, và vị giác. Không chỉ thoả mãn tính thẩm mỹ, ẩm thực Nhật Bản còn đáp ứng được nhu cầu về sức khoẻ: ít béo, ít ngọt, và sử dụng nhiều các loại rau đậu, và do đó món ăn Nhật Bản đang ngày càng được phổ biến khắp thế giới. Cũng có thể vì đặc điểm này đã giúp cho người Nhật có tuổi thọ cao. Người Nhật vốn yêu thích sự thay đổi rõ ràng của thời tiết, sống hoà hợp với thiên nhiên bốn mùa và luôn thưởng thức những loại thức ăn mà thiên nhiên mang lại theo từng mùa quanh năm.

Tính cách nổi bật của người Nhật là trung thành ,tự giác kỉ luật cao đac biệt họ co tình cảm thẩm  rất cao. Vì vậy món ăn Nhật Bản nghiêng về sự bắt mắt tinh tế, đó là sự hòa trộn khéo léo và tinh tế của màu sắc, hương vị cũng như tôn giáo truyền thống. Những món ăn được chế biến nhỏ nhắn, xinh xắn, hương vị thanh tao, nhẹ nhàng không quá nồng đậm. Người Nhật thường dùng đũa để ăn, đặc biệt họ thích bày biện món ăn bằng những bát, đĩa nhỏ xinh.

3)Tôn giáo

Ở Nhật đạo Phật là tôn giáo chủ yếu nên ẩm thực Nhật co sự xuất hiện của những món chay.

Năm 1185, chính quyền dời về Kamakura, nơi được cho là tiêu biểu cho cuộc sống của các võ sĩ samurai và các nhà thiền sư, và cũng là nơi ra đời những món ăn đơn giản hơn. Nơi đây, cũng ra đời shojin ryori (món ăn chay) cũng do ảnh hưởng bởi các nhà sư Trung Hoa với cách nấu của các thiền viện Trung Hoa. Món ăn chay Nhật Bản chú trọng vào 5 màu sắc cơ bản: xanh, đỏ, vàng, trắng và đen tím, và 6 vị: đắng, chua, ngọt, nóng, cay và vị thơm ngon. Đây là cách nấu ăn rất quan trọng và vẫn còn ảnh hưởng cho đến ngày nay từ mùi vị, khẩu vị cho đến cách nấu. Shojin ryori đã dẫn đến sự phát triển của món cha kaiseki (món ăn được dọn ra trước buổi trà đạo) vào thế kỷ 16.

4)Tuổi tác

Ngày nay do cuộc song hối hả , bận rộn và ảnh hưởng của lối sống phương Tây đaphần giới trẻ Nhật thich các món ăn nhanh như humberger, bánh mì, sữa , bơ…Trong khi những người cao tuổi vẫn thích các món ăn truyền thống.

5)Kinh tế

Như ta đã biết Nhật là nền kinh tế lớn thư hai thế giới, tuổi thọ trung bình của người Nhật cao nhất thế giới. Vân đề ăn uông rất dduocj coi trọng . Hangg năm người Nhật dành một phần đáng kể thu nhập của minh cho thực phẩm. bưa ăn của họ khong chỉ đap ứng đủ nhu cầu về dinh dưỡng mà còn phải cân bang về thành phần, đáp ứng yếu tố thẩm mĩ…

II)Khẩu vị ăn uông cua người Nhật

1)Văn hóa ẩm thực Nhật được biết đến với những món ăn truyền thống, và nghệ thuật trang trí ẩm thực độc đáo. Nhật cũng giống như các nước châu Á khác, xuất phát từ nền nông nghiệp lúa, nên cơm được coi là thành phần chính trong bữa ăn của người Nhật. Ngoài ra cá và hải sản là nguồn cung cấp protein chủ yếu của họ. Người Nhật thường chú ý nhiều đến kiểu cách và rất cầu kỳ trong chế biến thực phẩm. Chính những điều này tạo nên hương vị đặc trưng của các món ăn Nhật như các món ăn sống, hấp, luộc…

“Tam ngũ” là quan niệm của người Nhật trong các món ăn, đó là “Ngũ vị, ngũ sắc, ngũ pháp”.

  • Ngũ vị bao gồm: ngọt, chua, cay, đắng, mặn
  • Ngũ sắc có: trắng, vàng, đỏ, xanh, đen
  • Ngũ pháp có: để sống, ninh, nướng, chiên và hấp.

Mùi vị các món ăn Nhật đơn giản hơn so với các món ăn của phương Tây. Đồ ăn Nhật chú trọng đến đặc sản theo từng mùa và sự lựa chọn các bát đĩa đựng thức ăn một cách nghệ thuật. Các món ăn của Nhật nhằm giữ lại nhiều nhất hương vị, màu sắc của thiên nhiên.

Nhật Bản nghiêng về sự bắt mắt tinh tế, đó là sự hòa trộn khéo léo và tinh tế của màu sắc, hương vị cũng như tôn giáo truyền thống. Những món ăn được chế biến nhỏ nhắn, xinh xắn, hương vị thanh tao, nhẹ nhàng không quá nồng đậm. Người Nhật thường dùng đũa để ăn, đặc biệt họ thích bày biện món ăn bằng những bát, đĩa nhỏ xinh.

Bữa cơm người Nhật chủ yếu là cơm, cá, rau và có rất ít thịt trong thành phần ăn. Mỗi người bao giờ cũng có một bát cơm kèm với rau bina, củ cải hoặc dưa góp, rong biển sấy được dùng để cuộn cơm hoặc ăn không. Có thể ăn mì Udon và Soba để thay thế cơm hay Sushi. Món khai vị là sashimi và kết thúc bữa ăn là một tách trà xanh nóng hổi.

Trước khi ăn người Nhật thường nói: “itadakimasu” – là một câu nói lịch sự, nghĩa là “xin mời” nhằm nhấn mạnh sự cảm ơn tới người đã cất công chuẩn bị bữa ăn. Khi ăn xong, họ lại cảm ơn một lần nữa “gochiso sama deshita” (cảm ơn vì bữa ăn ngon”)

Những món ăn truyền thống của người Nhật

Ẩm thực truyền thống của người Nhật được thế giới biết đến với các món như: sushi, sashimi, tempura, súp miso, mì Udon, Soba… Các món này được xem như những món đem lại may mắn, hạnh phúc cho người thưởng thức.

Sushi là món cơm trộn với giấm, kết hợp với các loại thức ăn như cá sống, trứng cá, rau củ, và được cuốn trong lá rong biển. Có nhiều loại sushi khác nhau, mỗi loại đều đem lại hương vị và màu sắc khác nhau. Món này dùng bằng tay, chấm tương rồi cho vào miệng mà không cắn nhỏ vì sẽ làm nát miếng sushi. Sushi ăn kèm với nước tương, mù tạt và gừng ngâm chua.

Nigirizushi là dạng cơm nắm hình thuôn dài, thường có thêm 1 ít wasabi và bọc hải sản bên ngoài và thường được buộc lại bằng rong biển (gọi là nori). Các loại hải sản được sử dụng rất đa dạng từ cá hồi, cá ngừ, bạch tuộc, mực ống, tôm, lươn .v.v.

+Inarizushi

Inarizushi đơn thuần chỉ là đậu hủ nhồi cơm sumeshi, tẩm xì dầu rồi rán cho giòn. Về sau, các loại hoa quả và một số thực phẩm khác được bổ sung thêm vào.

+Makizushi

Makizushi là dạng Sushi cuộn như các món cuộn của Việt Nam nhưng bên ngoài là lớp rong biển. Makizushi thường được làm (cuộn) bằng 1 mảnh chiếu tre nhỏ gọi là makisu và thường được cắt thành 6 đến 9 cuộn sau khi hoàn tất.

+Oshizushi

Oshizushi là dạng Sushi hình khối vuông được làm bằng một khuôn gỗ gọi là oshibako. Oshizushi xuất phát từ vùng Kansai và là một đặc sản của Osaka.

+iChirashizush

Chirashizushi thường được dùng vào lễ hội búp bê. Đây có lẽ là kiểu Sushi dễ làm nhất, bạn cho cơm sumeshi vào tô cùng với tất cả các nguyên liệu khác. Chirashizushi thường rất khác nhau và các loại nguyên liệu sử dụng là tùy theo sáng tạo của đầu bếp.

+Narezushi

Narezushi là loại Sushi gần với kiểu Sushi lên men cổ truyền nhất, cá được ướp muối để bảo quản và ủ khoảng 6 tháng với cơm sumeshi. Đây là loại Sushi có thể để được rất lâu.

Sashimi là món ăn sống trong ẩm thực Nhật, làm từ cá và hải sản tươi sống: những lát hải sản như mực, tôm, sò, cá ngừ, cá hồi sống được xếp một cách đẹp mắt trên khay gỗ cùng với củ cải trắng bào sợi và lá tía tô. Món ăn được chấm kèm với nước tương và mù tạt (wasami). Cảm giác đầu tiên khi ăn sashimi là vị cay xộc đến mũi, đánh thức các giác quan. Sau đó là vị mặn vừa của nước tương hảo hạng và vị ngọt tươi ngon, mềm, béo ngậy của cá sống. Tất cả như tan vào trong miệng, trôi tuột xuống bao tử.

Tempura là món chiên trong ẩm thực Nhật, đó là các loại tôm, cá, mực và rau củ được tẩm qua bột và chiên vàng. Lớp bột mỏng, giòn nhưng không cứng, có độ mềm nhẹ. Sau khi chiên, tempura phải thật khô ráo, không gây cảm giác ngán cho người ăn. Món ăn dùng với nước tương pha loãng cùng với ít củ cải trắng và gừng băm nhỏ.

Mỳ Soba là món mì lạnh, được sử dụng thay cơm, làm từ sợi mì soba, trứng cút, rong biển, hành lá, gừng và wasabi. Mì sau khi luộc được ngâm qua nước đá lạnh, ăn cùng với nước sốt zaru.

Mì Udon là những sợi mì nhỏ, có màu trắng, được làm từ bột, muối và nước. Mì có thể ăn nóng hoặc nguội và được nấu bằng nhiều cách. Mì nóng thì được ăn với canh nóng, mì nguội dùng với nước sốt. Gia vị ăn kèm mì udon là hạt vừng, bột gừng tươi, rong biển sấy khô, lát hành xanh, wasabi…

+Cách chế biên thức ăn của Nhật

Rau củ:

Rau củ Nhật Bản gần giống với rau củ châu Âu và châu Á. Chúng bao gồm loại lấy lá như rau chân vịt, lấy quả như cà tím, loại lấy hoa, lấy thân, lấy rễ. Có nhiều loại xa lạ với người phương Tây như fuki (khoai môn), daikon (1 loại củ cải) và thậm chí cả lá cây hoa cúc. Daikon xắt mỏng được coi là món ăn độc đáo của người Nhật, được ngâm chua hay để trang trí thức ăn.

Một loại củ chứa tinh bột khác thường và được yêu thích là konyakku. Người ta cho là nó xuất xứ từ Indonesia và ngày nay được trồng tại 1 số vùng ở Nhật Bản. Konyakku được ăn sống, luộc hay làm thành bột. Mặc dù giá khá cao nhưng nó rất được ưa thích.

Yam – 1 một món ăn mà người Nhật gọi là “khoai tây núi”. Yam rất hay xuất hiện trong các bữa ăn, chúng thường được nướng trong lò hay hấp lên.

Cá:

Ăn cá là niềm đam mê của người Nhật. Hầu hết người Nhật đều biết 1 thứ có thể gọi là thời gian biểu ăn cá: Khi nào thì ăn cá hồi sống, khi nào thìăn cá hồi biển, khi nào thì ăn cá ngừ đại dương. Vì thế mà họ có rất nhiều món ăn chế biến từ cá. Những con cá nướng trên khay kim loại gọi là teppan, cá luộc trong nước tương, bánh cá và cá viên. Cá khô và cá ướp bonito (katshuo-bushi) thường dùng trong món súp miso (tương đậu nành sệt) và cá lạng thành miếng mỏng dùng để tô điểm cho món ăn. Món gia vị nổi tiếng nhất là món nước chấm đậm đặc làm từ cá luộc.
Người Nhật thích món cá sống, sashimi, một món cao lương mĩ vị đắt tiền được dùng như món khai vị, dùng với wasabi, một loại mù tạt hăng xè của Nhật Bản, cộng thêm cả những lát gừng thái mỏng nữa.

Các loại hải sản khác:

oài cá, người Nhật còn ăn các loại hải sản khác nữa, trong đó có rong biển. Rong biển là nguồn cung cấp chính các khoáng chất và các nguyên tố vi lượng trong thực đơn hàng ngày của họ. Lươn cũng là 1 loại thức ăn đặc biệt. Kabayaki (lươn nướng) là món ăn khoái khẩu. Đầu tiên lươn được hấp chín rồi đêm nướng vàng và đặt trên mâm cơm. Người Nhật còn gọi tôm panda là tôm anh đào vì màu sắc hồng nhạt của nó.

Thịt:

Thịt lợn được du nhập vào Nhật Bản từ Trung Quốc qua ngả Triều Tiên, và những món thịt lợn ngon nhất vì thế đều ở phía nam. Họ có món sườn lợn (tonkatsu) và nhiều món khác, nhưng thường thì thịt lợn không xuất hiện trong thực đơn chính ở Nhật Bản. -Người Nhật chỉ ăn thịt bò như một món đặc biệt. Sukiyaki, những miếng thịt mỏng nấu với rau được ăn trước bữa tối là một món như vậy. Họ đã sáng chế món thịt bò kobe cho những khẩu vị đặc biệt của họ. Những con bò được vỗ béo và xoa bóp làm cho mỡ tản đều trong bắp thịt. Khi nấu chín, những hạt mỡ vón lại nằm rải rác khắp miếng thịt. Thịt bò kobe có lẽ là thứ thịt bò đắt nhất thế giới.

Thịt hươu là một trong những món khá khác thường của Nhật Bản. Người ta cho rằng loại hươu ngon nhất là ở Hokkaido, nơi hươu nai ăn những loại cỏ có tính thảo dược. Người Nhật cũng khoái khẩu món thịt ngựa. Giống như người Đức hay người Pháp, người Nhật thích hương vị và sớ thịt khác lạ của món thịt ngựa. Thỉnh thoảng họ còn ăn thịt ngựa sống như món sashimi.

Trứng:

Người Nhật có cách riêng của họ trong cách chế biến trứng. Chawan-mushi (nghĩa đen là “hấp cách thủy”) là món trứng đánh với gia vị rồi đem hấp. Trong các thành phố, các okonomiya (cửa hiệu trứng ốp-lếp) cung cấp cho khách ăn 1 thực đơn hoa cả mắt về các món ốp-lếp.

Tofu (Đậu phụ):

Khi những người theo đạo Phật hạn chế ăn thịt thì đậu nành – một loại thực phẩm có chứa nhiều đạm thực vật – trở thành 1 món ăn phổ biến. Tofu (đậu phụ,tàu hủ) là món ăn được phổ biến rộng rãi khắp nước Nhật. Đậu phụ được ăn nguội hoặc ăn nóng, nó cũng có thể được chế biến như món nước uống hay thức ăn, như món ăn với cơm hoặc món ăn tráng miệng. Bữa ăn của người Nhật sẽ ko thành bữa ăn nếu ko có món đậu phụ.

Làm đậu phụ đã trở thành nghệ thuật của người Nhật. Các chùa chiền ganh đua nhau trong việc sáng chế ra các loại đậu phụ thượng hạng, và từ đó mà sinh ra thứ “đậu phụ mịn như lụa, tàu hủ non” của người Nhật. Một món khác thường được phục vụ trong các quán ăn là món “đậu nướng”, 1 miếng đậu nướng với nước chấm đặc và ngọt cùng một lát cá nướng đặt lên trên.

Shabu-Shabu và Tempura:

Các món hầm nói chung được những người đi ngoài trời lạnh về thích ăn. Ở Nhật Bản cũng vậy, nhiều món hàm của Nhật được chế thêm tương. Họ gọi chúng là nimono. Có hàng trăm món hầm, tất cả đều ngon lành như món thịt kho tàu của người Hoa hay món gà nấu rượu của người Pháp. Người Nhật có 1 kiểu “nồi hầm” hay cái lẩu gọi là shabu-shabu, hay là cái “lục xục”. Từ này ko có nghĩa gì cả, nó chỉ là tiếng nước sôi lục xục, và người ta nhúng những miếng thịt và rau sống vào trong nước đó cho chín rồi ăn.
/        Đồ chua và gia vị thảo mộc:

Các món ăn Nhật Bản có hương vị nhẹ nhàng, vì thế họ chế ra những món kích thích vị giác rất mạnh, đó là vô số các món đồ chua – tsukemono. Củ cải và dưa chuột muối chua-giòn tan, ngon lành, khác lạ, với một chút vị chua chua cay cay – để thêm vào cái cảm giác hoàn hảo cho các món ăn Nhật Bản. Những thảo mộc và gia vị của người Nhật rất gắt nhưng tinh tế, và chúng giữ một vai trò quan trọng trong nghệ thuật nấu nướng của người

Okonomiyaki Okonomiyaki:

Bánh xèo được bán rất khuya trong những quầy hàng như thế này. Người bán hàng đốt cái chảo thật nóng rồi đổ bột vào, cho thêm gia vị rồi gấp nó lại. Rưới thêm 1 ít nước sốt và thế là thực khách đã có 1 chiếc bánh nóng bỏng ngon lành.

2)Văn hóa uống của Nhật

+Văn Hóa Uống Rượu Của Người Nhật Bản

Ra đời cùng với nghi lễ, uống trà, cắm hoa, uống rượu Sakê thời Murômi Chi (1933-1573) là một trong những nét đặc trưng nhất của Nhật Bản

Ngày xưa ở Nhật Bản có ba trường phái uống Sakê: Trường phái quý tộc thì xem ai sành nếm rượu, trường phái võ sĩ chú ý làm đúng nghi lễ, trường phái thương nhân nhằm bày tỏ lòng hiếu khách Sakê có độ cồn 22o vào loại cao so các loại rượu trên thế giới.

Rượu Sakê thường được đun nóng đựng trong vò hoặc lọ bằng gốm. Sakê thường được uống trong khi giải trí như ngắm trăng, xem tuyết, ngắm hoa Anh đào….

Nếm Sakê là một nghệ thuật tinh tế. Xưa kia thường có tục thi nếm Sakê để biết rượu ở đâu làm… Ngày nay, những người sành rượu có thể đánh giá được chất lượng của Sakê. Họ rót rượu vào một cái chén bằng sứ trắng ở đó có vẽ hai vòng tròn xanh thẫm lồng nhau tượng trưng cho mắt rắn. Đánh giá rượu Sakê theo ba bước: nhìn để đánh giá độ trong, màu sắc, ngửi đánh giá hương vị và nếm. Ngôn ngữ Nhật Bản có 20 tính từ đánh giá độ trong và màu sắc rượu, 80 từ đánh giá về hương, và có hơn 70 từ đánh giá về chất lượng Sakê khi nếm. Loại rượu Sakê quý nhất là Ghiugiô, có hương vị thơm thoảng như táo, chuối, dứa. Trước đây Ghiugiô sản xuất ít thường được sử dụng trong những đợt thi nếm. Ngày nay do cạnh tranh với bia, Whisky, rượu vang, Ghiugiô được sản xuất nhiều hơn. Hương vị đặc biệt, rượu Sakê đã trở nên nổi tiếng trên thế giới, trong khu vực là một biểu tượng của đời sống văn hóa tương đối cầu kỳ nhưng tinh tế của người Nhật.

Một sự khác biệt giữa cách uống rượu của nguời Nhật và người việt là trong khi người Việt mình không cho đá vào rượu thì người Nhật lai thường cho đá và nước hòa rượu trước khi uống. Và người Nhật cũng ít khi uống kiểu xoay vòng 100 % như ở Việt Nam mình.

+Văn hóa trà đạo

Trà đạo là một trong những nghệ thuật truyền thống đặc sắc của Văn hóa Nhật Bản, không chỉ vậy mà nó còn là một trong số ít những nghệ thuật độc đáo nhất trên thế giới.Khi nhắc đến Nhật,việc người ta nhắc đến Trà đạo, hay ngược lai:nói đến Trà đạo là người ta nghĩ ngay đến đất nước mặt trời mọc không có gì phải ngạc nhiên. Trà đạo đó là niềm tự hào của người Nhật.

Và khi đi tìm hiểu về Trà đạo của Nhật Bản, người ta không thể không nhắc tới tên tuổi của vị thiền sư SEN NO RIKYU (1521-1591),một người đã có công vô cùng lớn lao để tạo ra sự phát triển cũng như sự độc đáo, đặc sắc trong nghệ thuật Trà đạo mà vẫn mang đậm màu sắc văn hóa của đất nước Phù Tang.Một trong những đóng góp to lớn đó chính là việc Sen no Rikyu đề ra 4 nguyên tắc trong Trà đạo: HÒA – KÍNH -THANH -TỊNH.
“HÒA” có nghĩa là sự hài hòa, hòa hợp, giao hòa. Đó là sự hòa hợp giữa trà nhân với trà thất, sự hòa hợp giữa các trà nhân với nhau, sự hòa hợp giữa các trà nhân với các dụng cụ pha trà.
“KÍNH” là sự tôn trọng, tôn kính của trà nhân với mọi sự vật và con người, là sự tri ân cuộc sống. Và lòng kính trọng được nảy sinh khi tinh thần của trà nhân vươn tới sự hài hòa hoàn toàn.
Khi lòng tôn kính với vạn vật đạt tới sự không phân biệt thì tấm lòng trở nên thanh thản, yên tĩnh đó là ý nghĩa của chữ “THANH”.

Khi lòng thanh thản,yên tĩnh hoàn toàn thì toàn bộ thế giới trở nên tĩnh lặng, dù sống giữa muôn người cũng như sống giữa nơi am thất vắng vẻ tịch liêu. Lúc đó thế giới với con người không còn là hai, mà cả hai đều vắng bặt.Đó là ý nghĩa của chữ “TINH”.
Bốn chữ : “Hòa – Kính – Thanh -Tĩnh ” như một thước đo bản thân vị trà nhân đang ở vị trí nào trên con đường trà đạo.
3)Các mon ăn dịp lễ tết

Tại Nhật Bản, các ngày lễ và lễ hội diễn ra hầu như quanh năm, và sẽ có những loại món ăn thích hợp dành cho các ngày lễ này: món bánh dày hình thoi, bánh bột gạo tẩm đường được xếp trên bàn bày toàn búp bê dành cho ngày lễ bé gái vào ngày 3 tháng 3, món bánh dango được chế từ bột gạo cho ngày hội ngắm trăng vào tháng 9.

Nhật Bản ăn Tết theo dương lịch. Những ngày đầu tháng giêng là thời gian quan trọng nhất trong năm của người Nhật. Vào năm mới, người Nhật cúng Thần ngũ cốc với tâm niệm vị thần năm mới này sẽ cho một vụ bội thu.Trong những ngày cuối năm, họ dọn dẹp nhà cửa, trang trí kadomatsu (được làm từ một cành thông cùng tre và mai để đón Thần năm mới) trước cổng và shimekazai (có ý nghĩa đuổi quỷ trừ tà) trên cửa ra vào và bàn thờ. Bánh dày kagamimochi được bày trên tokonoma là góc trang trọng trong nhà, được coi là chỗ ngồi của Thần. Bánh này được làm từ loại gạo nếp mà người ta tin rằng mang hồn cây lúa.
Osechi là những đồ ăn ngon được chuẩn bị với các món nấu, món trộn dấm, món nướng làm từ hải sản, thịt và các loại rau với hương vị và màu sắc phong phú cùng thành phần dinh dưỡng hợp lý. Mỗi nguyên liệu lại mang một ý nghĩa riêng hàm chứa lời cầu chúc một năm mới nhiều may mắn: cá tráp mang ý nghĩa may mắn, rong biển với ý nghĩa vui mừng, đậu có ý nghĩa mạnh khoẻ, trứng cá trích – con cháu đông đúc, ngó sen – nhìn xa trông rộng, tôm – sự trường thọ. Osechi thường được xếp trong một hộp sơn Nhật 4 cạnh. Osechi được chế biến bằng phương pháp và nguyên liệu để lâu được nhằm giảm công việc nội trợ trong khoảng ba ngày Tết.
Thức ăn ngày Tết có thể khác nhau tuỳ mỗi vùng và mỗi nhà. Món ăn cổ truyền trong dịp Tết còn gồm các món dưới đây.
Món khai vị iwai – zakana. Món này thường được đặt trên cái đĩa hình hagoita (vợt chơi cầu lông vào dịp Tết), và gồm 3 món: tazukuri, kazunoko, kuromame.
Tazukuri là món cá xac-đin nhỏ sấy khô tẩm đường và nước tương. Ngày xưa người ta thường dùng bã cá xac-đin để bón phân cho ruộng lúa. Tazukuri (làm ruộng) nói lên hy vọng được mùa.
Món kazunoko là món trứng cá trích muối. Chúng được nhúng nước rồi ướp rượu sake và nước tương. Món kazunoko (nghĩa đen là con cháu đông đúc) nói lên hy vọng sinh được con đàn cháu đống.
Món kuromame màu đen, một loại đậu phụ, đã được luộc và tẩm đường. “Mame”vừa có nghĩa là “đậu”, vừa có nghĩa là “sức khỏe tốt”.
Ngoài ra còn có món nấu zouni gồm bánh bột nếp mochi (dùng để cúng), rau, thức ăn biển, và thịt gà. Món soup này có những lát củ cải trắng và cà rốt thái mỏng buộc với nhau, để có được màu đỏ và trắng là những màu lễ hội cổ truyền Nhật Bản. Người ta tỉa các nguyên liệu theo hình cánh hoa, nhuộm màu sau đó bày biện thật đẹp để mừng năm mới.
Bánh dày của từng vùng cũng khác nhau, đại để vùng Tây Nhật Bản làm bánh hình tròn còn vùng Đông Nhật Bản lại làm bánh hình vuông.

4)Khẩu vị ăn uông ngày nay

Phong cách, thói quen ăn uống của người Nhật đã bị Âu hóa đi nhiều và trở nên khá đa dạng. Thay đổi rõ nét nhất là sự xuất hiện của bánh mỳ trong các bữa ăn. Hiện nay có rất nhiều người dùng bánh mỳ, trứng, sữa, và uống cà phê hay trè cho bữa sáng. Thập kỷ trước đây, các nhân viên công sở thường mang theo hộp cơm trưa tới nơi làm việc nhưng hiện nay thì tại các quán ăn gần nơi công sở bạn có thể tìm thấy đủ các món ăn thay đổi theo khẩu vị từ phương Tây cho tới khẩu vị truyền thống của Nhật. Tại đa số các trường tiểu học, trung học của Nhật đều có phục vụ bữa trưa, được thiết kế với thành phần dinh dưỡng đầy đủ và cân bằng và tất nhiên là có cả khẩu vị của các món ăn phương Tây lẫn khẩu vị truyền thống của Nhật. Các bữa ăn tối của người Nhật cũng thay đổi với nhiều loại món ăn bao gồm cả các món ăn Nhật, các món ăn Tàu và cả các món ăn của phương Tây. Một bữa ăn truyền thống bao gồm có cơm, một món canh, các món ăn chính bao gồm thịt, cá và rau. Nói chung thì trẻ em Nhật thích các món ăn phương Tây như là xúc xích (Hamburger) hơn là các món ăn Nhật cho nên các món ăn tối tại nhà thường có xu hướng thay đổi cho phù hợp với khẩu vị của họ.

III)Tư vấn cho nhà quản li

Như đã phân tích ở trên ngươi Nhật co tình cảm thẩm mĩ rất cao vì vậy các món ăn phục vụ du khách Nhật phải được trinh bày khéo léo, đẹp mắt,tinh tế. Đồ đựng thức ăn phải tinh xảo.

+Người Nhật có tính tư tôn dân tộc rât cao, khi đi du lịch họ rât thích có lọ tương Nhật đặt trên bàn ăn ở địa điểm họ đến.

+Không giống như người Trung Quốc đồ ăn của Nhật thường ít dầu mỡ  ,nhiều rau xanh đây là điểm cân lưu ý khi phục vụ hoạc chiêu đãi khách Nhật.

+khi uống rượu sa-kê người uống không bao giờ tự rót mà luôn có người khác rot cho. Khi ăn người nhât thường nhai thành tiếng để tỏ ý hài long về món ăn .Vi vây nếu được người Nhật mơi ăn cơm bạn cũng phải làm như vậy nê không sẽ bị coi là bất lịch sự.

+Các  mon phải được chế biến theo từng mùa va theo khẩu vị ăn uống của từng vùng. Muốn vậy nhà quản lí  phải biết dduocj vị khách của mình đến từ vùng nào của Nhật.
Giao tiếp với người Nhật
Trong giao tiếp truyền thống của người Nhật có những quy tắc, lễ nghi mà mọi người đều phải tuân theo tùy thuộc vào địa vị xã hội, mối quan hệ xã hội của từng người tham gia giao tiếp. Những biểu hiện đầu tiên trong quá trình giao tiếp của người Nhật là thực hiện những nghi thức chào hỏi. Tất cả các lời chào của người Nhật bao giờ cũng phải cúi mình và kiểu cúi chào như thế nào phụ thuộc vào địa vị xã hội, từng mối quan hệ xã hội của mỗi người khi tham gia giao tiếp.

Một quy tắc bất thành văn là “người dưới” bao giờ cũng phải chào “người trên” trước và theo quy định đó thì người lớn tuổi là người trên của người ít tuổi, nam là người trên đối với nữ, thầy là người trên (không phụ thuộc vào tuổi tác, hoàn cảnh), khách là người trên… Người Nhật sử dụng ba kiểu cúi chào sau:

+ Kiểu Saikeirei: cúi xuống từ từ và rất thấp là hình thức cao nhất, biểu hiện sự kính trọng sâu sắc và thường sử dụng trước bàn thờ trong các đền của Thần đạo, chùa của Phật giáo, trước Quốc kỳ, trước Thiên Hoàng.

+ Kiểu cúi chào bình thường: thân mình cúi xuống 20-30 độ và giữ nguyên 2-3 giây. Nếu đang ngồi trên sàn nhà mà muốn chào thì đặt hai tay xuống sàn, lòng bàn tay úp sấp cách nhau 10-20cm, đầu cúi thấp cách sàn nhà 10-15cm.

+ Kiểu khẽ cúi chào: thân mình và đầu chỉ hơi cúi khoảng một giây, hai tay để bên hông.

Người Nhật chào nhau vài lần trong ngày, nhưng chỉ lần đầu thì phải chào thi lễ, những lần sau chỉ khẽ cúi chào. Ngay cả người Nhật cũng thấy những nghi thức cúi chào này hết sức rườm rà nhưng nó vẫn tồn tại trong quá trình giao tiếp từ thế hệ này qua thế hệ khác và cho đến tận ngày nay.

+ Giao tiếp mắt: người Nhật thường tránh nhìn trực diện vào người đối thoại, mà họ thường nhìn vào một vật trung gian như caravat, một cuốn sách, đồ nữ trang, lọ hoa…, hoặc cúi đầu xuống và nhìn sang bên. Nếu khi nói chuyện mà nhìn thẳng vào người đối thoại thì bị xem như là một người thiếu lịch sự, khiếm nhã và không đúng mực.

+ Sự im lặng: người Nhật có khuynh hướng nghi ngờ lời nói và quan tâm nhiều đến hành động, họ sử dụng sự im lặng như một cách để giao tiếp và họ tin rằng nói ít thì tốt hơn nói quá nhiều. Trong buổi thương thảo, người có vị trí cao nhất thường ít lời nhất và những gì anh ta nói ra là quyết định sau cùng, im lặng cũng là cách không muốn làm mất lòng người khác.

+ Gián tiếp và nhập nhằng: thường thì họ giải thích ít những gì họ ám chỉ và những câu trả lời thì cũng rất mơ hồ. Họ không bao giờ nói “không” và chẳng nói cho biết rằng họ không hiểu. Nếu cảm thấy bất đồng hoặc không thể làm những yêu cầu của người khác họ thường nói “điều này khó”.

Bất kỳ lời nói, cử chỉ nào của người Nhật kể cả sự thúc giục hay từ chối cũng đều mang dấu ấn của sự lịch thiệp, nhã nhặn. Vì người Nhật có ý thức tự trọng cao nên họ đặc biệt tránh trở thành kẻ lố bịch, không đúng mực, khiếm nhã khi giao tiếp.

Người Nhật rất chú trọng làm sao cho người đối thoại cảm thấy dễ chịu. Họ không bao giờ muốn làm phiền người khác bởi những cảm xúc riêng của mình, cho dù trong lòng họ đang có chuyện đau buồn nhưng khi giao tiếp với người khác họ vẫn mỉm cười.

+ Khi bước vào tiếp xúc, sau những lời chào hỏi xã giao, với cương vị chủ nhà, họ thường chủ động đi vào vấn đề cần bàn bạc trước. Lúc câu hỏi được đưa ra có nghĩa là công việc đã chính thức bắt đầu. Trong không khí căng thẳng, nếu bạn tạo được tình huống vui vẻ gây cười thì sẽ tạo được ấn tượng tốt, nhưng nên dừng lại đúng lúc. Người Nhật khi đang thực thi nhiệm vụ hoặc đang suy nghĩ thì không nên đưa ý kiến chệch vấn đề đang bàn, nói những câu thiếu thông tin, hỏi về đời tư. Bạn sẽ bị đánh giá là thiếu nghiêm túc, thậm chí sẽ gây ác cảm với họ.

Dù người Nhật rất khoan dung với người nước ngoài về khoản này, nhưng sẽ là một lỗi trong giao tiếp nếu không dùng ngôn ngữ lễ phép và kính ngữ khi dùng tiếng Nhật để nói chuyện với người có địa vị cao hơn. Kính ngữ “san” có thể dùng khi bạn nói tiếng Anh nhưng đừng dùng nó để gọi chính mình. Tên người Nhật có họ để phía trước nhưng họ cũng thường để ngược lại vì lợi ích của người Tây phương trong giao tiếp.

Nụ cười hay tiếng cười của người Nhật có thể là do họ cảm thấy bối rối hoặc khó chịu, và có thể không mang nghĩa là họ đang vui.

Sẽ là thô lỗ nếu khi không gửi thiệp trong ngày Tết của Nhật khi nhận được thiệp gửi cho bạn. Nhưng nếu gửi thiệp ấy tới một tang gia chưa giáp năm là lỗi trong giao tiếp.

Với người Nhật, việc tặng tiền thường bị xem là thô lỗ, tiền mặt là loại quà cáp quy chuẩn trong đám cưới hay cho trẻ em trong năm mới.

Khi gọi ai đó bằng cách vẫy tay, nên để tay thẳng, lòng bàn tay hướng xuống, sau đó quạt các ngón tay xuống, việc cong một vài ngón tay trong không khí là cử chỉ tục tĩu. Sẽ là một lỗi trong giao tiếp nếu chỉ tay trực tiếp vào người khác, thay vào đó ta mở rộng bàn tay ngửa lên trên như thể đang bưng một cái mâm và chỉ về phía người đó.

Một điều rất quan trọng trong giao tiếp là cách tạo ra thiện cảm ban đầu, trong công việc cũng như sinh hoạt, người Nhật không muốn bị lãng quên. Với quỹ thời gian eo hẹp của cuộc sống công nghiệp, công chức Nhật rất quan tâm vấn đề thời gian nếu có cuộc hẹn. Họ tỏ ra khó chịu khi phải đợi và rất mất cảm tình với người sai hẹn. Nếu là người đi tìm hiểu cơ hội hợp tác kinh doanh thì anh ta khó có cơ hội thứ hai gặp lại.

Người Nhật thích tặng quà cho từng người khách và khi được tặng quà thường không mở món quà đó trước mặt người tặng quà, như luật bất thành văn, họ tặng quà nhau trong các ngày lễ tết hoặc khi có tin vui, thăng quan tiến chức. Việc gói quà tặng là cả một nghệ thuật, bạn nên nhờ nhân viên bán hàng làm giúp để tránh sai sót. Không nên tặng quà có số lượng 4 hoặc 9, những vật nhọn hoặc trà uống vì chúng tượng trưng cho điều kém may mắn tại Nhật.

Khi đến nhà người khác chơi, được chủ nhà mời vào nhà thì người khách phải đáp “cảm ơn, rất hân hạnh” và cởi bỏ áo khoác trước cửa nhà. Nếu là người đến thăm lần đầu thì chỉ ở chơi không quá nửa giờ, sau đó vào lúc thích hợp phải xin phép ra về với câu “Tôi đã làm phiền ngài quá lâu, xin lượng thứ”. Sau khi cởi đôi dép đi trong nhà, người khách phải quay mũi dép vào trong phòng, ở cửa người khách phải cúi chào một lần nữa và cảm ơn chủ nhà vì sự tiếp đón rồi mới đi ra.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: